Trao đổi với báo Giáo dục và Thời Đại, Cô Nguyễn Thị Hương Thủy THPT Chu Văn An cho biết, đề cấu trúc tương đương với đề minh họa. HS không bị bỡ ngỡ và có tinh thần làm bài khá thoải mái. Đề đã đảm bảo được chuẩn kiến thức và kỹ năng, chạm đến những vấn đề mang tính thời sự và có thể phát huy được những trải nghiệm của HS THPT. HS có thể làm bài không chỉ bằng kiến thức ở nhà trường, mà còn bằng những suy nghĩ, trải nghiệm của cá nhân.

Với những HS có lực học trung bình, có thể giải quyết được đề bài ở mức độ 50- 60%. Còn với HS giỏi, có năng lực, biết suy tư, trăn trở, có thể phát huy được sở trường của mình khi cảm nhận được nội dung sâu xa của đề.

Cả hai phần đọc hiểu và làm văn đều là những vấn đề quen thuộc, đã được trình bày bởi những con người ở thế hệ trước (Vũ Quần Phương, Hoàng Phủ Ngọc Tường… những người ở thế hệ nguyện “hóa thân cho dáng hình xứ sở”); những HS thuộc thế hệ ngày hôm nay khi làm bài có thể đối thoại được với thế hệ đi trước, thế hệ cha anh, để vừa thể hiện được sự suy tư khi kế thừa thành quả, vừa thể hiện được sự tiếp nối của thế hệ trẻ hôm nay.

Đề thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT Quốc gia 2019. Đề thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT Quốc gia 2019.

Gợi ý giải đề thi môn Ngữ Văn kỳ thi THPT Quốc Gia 2019:

I. ĐỌC HIỂU: (Đáp án theo báo Tuổi Trẻ Online)

Câu 1:

– Đoạn trích viết theo thể thơ: Tự do

Câu 2:

Nội dung của hai dòng thơ:

– Câu thơ nói lên những khó khăn, cực nhọc, vất vả của biết bao kiếp người.

– Ca ngợi những phẩm chất cần cù, chịu khó, hy sinh của con người.

– Thể hiện tấm lòng thương cảm, xót xa, yêu mến, trân trọng của tác giả đối với những con người gắn bó cuộc đời với biển cả.

Câu 3:

Hiệu quả của phép điệp:

– Phép điệp giúp nhấn mạnh, tô đậm vẻ đẹp của biển cả: hào hiệp, kiên nhẫn, nghiêm trang…

– Từ đó, tác giả thể hiện tình yêu của mình với biển cả; khẳng định, ca ngợi phẩm chất của con người lao động;

– Tạo nhịp điệu cho câu thơ: nhanh, gấp gáp như lời kể về câu chuyện của biển cả muôn đời.

Phần II. LÀM VĂN 

Trao đổi với Trí Thức Trẻ, Thạc sĩ Hồ Hoài Khanh hướng dẫn bài giải đề thi môn Ngữ văn câu 1 Nghị luận xã hội như sau:

Câu 1: Nghị luận xã hội (2.0 điểm)

Học sinh cần xác định rõ:

Hình thức là một đoạn văn 200 chữ: Nên phải đảm bảo đúng hình thức 1 đoạn và dung lượng khoảng 20 dòng.

Nội dung: Thí sinh cần tâp trung giải quyết từ khóa ý chí của con người trong cuộc sống. Không được lan man những vấn đề khác.

Gợi ý: Con người thành công bởi nhiều yếu tố khác nhau: Sức mạnh của thể chất – cơ bắp, sức mạnh của tinh thần – trí tuệ và còn có cả sức mạnh của ý chí – nghị lực, khát vọng của con người. Ý chí con người được tạo bởi những quyết tâm với lý tưởng cao đẹp, những hành động đẹp. Họ sẳn sàng vượt qua tất cả chông gai, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ với Tổ quốc và cũng là hoàn thành ước mơ, hoài bão của mình.

Câu 2: Nghị luận văn học (5.0 điểm) 

Trao đổi với Zing.vn,  thầy Nguyễn Phi Hùng và cô Nguyễn Thị Vân, giáo viên trường THPT Anhxtanh, Hà Nội hướng dẫn câu 2: Nghị luận văn học như sau:

I. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của nhà văn.

– Giới thiệu tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, đoạn trích thể hiện vẻ đẹp độc đáo của sông Hương ở khúc thượng nguồn.

II. Thân bài

– Giới thiệu chung: Sông Hương trong cái nhìn đầy mê đắm của Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện lên sống động giống như một người con gái Huế, mang trong nó cả sức sống, tâm hồn, tính cách rất riêng.

Dưới cái nhìn của nhà văn, dòng sông được tái hiện với cả góc nhìn không gian địa lý (địa chất), góc nhìn với bề sâu của văn hóa lịch sử, gắn bó thiết tha với thành phố Huế.

– Vẻ đẹp của dòng sông Hương ở khúc thượng nguồn được thể hiện trong đoạn trích:

+ Điểm đặc biệt đầu tiên, đó là một dòng sông “chung thủy”, nó chỉ thuộc về một thành phố duy nhất, thành phố Huế.

+ Vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội của dòng sông hiện lên qua hàng loạt hình ảnh so sánh đầy ấn tượng: Dòng sông như cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, như bản trường ca của rừng già.

Đồng thời, nhà văn sử dụng hàng loạt động từ, tính từ mạnh như rầm rộ, mãnh liệt, cuộn xoáy, phóng khoáng, man dại, bản lĩnh, gan dạ, tự do, trong sáng… để khắc họa vẻ đẹp trẻ trung đầy sức sống của dòng sông.

+ Vẻ đẹp mê đắm, trữ tình của dòng sông được thể hiện qua hình ảnh so sánh, ẩn dụ “người mẹ phù sa của nền văn hóa xứ sở”.

Các vẻ đẹp đó tuy đối lập mà thống nhất, quyện hòa để tạo nên vẻ đẹp đầy bí ẩn, cuốn hút của dòng sông ở khúc thượng nguồn.

Nó như một quãng đời trẻ trung, sôi nổi của tuổi thanh xuân người con gái, hoàn toàn khác biệt với gương mặt trầm mặc, dịu dàng khi sông Hương về với Huế.

– Nghệ thuật:

+ Cách miêu tả tinh tế tài hoa qua những hình ảnh nhân hóa, đối lập làm nổi bật vẻ đẹp của dòng sông.

+ Hình ảnh sáng tạo, câu văn dài mà khúc chiết, nhịp nhàng, nhiều biện pháp tu từ hợp lý đã gợi lên những liên tưởng kỳ thú, hấp dẫn.

+ Giọng văn nhẹ nhàng, ngọt ngào, mê đắm, thể hiện sự say mê của nhà văn với vẻ đẹp của quê hương xứ sở.

– Nhận xét về cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn:

+ Dòng sông mang trong mình vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của người con gái Huế, vừa mạnh mẽ sôi nổi, vừa đằm thắm, dịu dàng.

+ Dòng sông không chỉ được miêu tả với góc nhìn địa lí với những đặc trưng địa chất, địa mạo, nhà văn còn quan sát nó dưới góc nhìn văn hóa, lịch sử. Gắn thủy trình của dòng sông với lịch sử hình thành của nền văn hóa xứ sở.

+ Phải là một con người có vốn tri thức sâu rộng về địa lý, lịch sử, văn hóa, đặc biệt là phải có một tình yêu thiết tha, mãnh liệt với dòng sông Hương, với thành phố Huế, với quê hương xứ sở, nhà văn mới có được góc nhìn mới mẻ, độc đáo đến vậy.

III. Kết bài

Đoạn trích bài bút kí mang đậm phong cách của thể tuỳ bút vì chất tự do, phóng túng và hình tượng cái tôi tài hoa, uyên bác, một hồn thơ thực sự trong văn xuôi với trí tưởng tượng lãng mạn, những xúc cảm sâu lắng.

Từ tình yêu say đắm với dòng sông quê hương, từ những hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí; Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm hiện lên những vẻ đẹp khác nhau của sông Hương trong một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế, trí tuệ và tài hoa.