*Lưu ý: Bài viết có tiết lộ trước nội dung phim.

Bốn lần được đề cử, chưa một lần chiến thắng. Điều này khiến người xem tin rằng The Revenant là ván bài lớn của Leonardo DiCaprio, lớn nhất từ trước đến nay, khi anh đem toàn bộ gia tài điện ảnh đổi lấy cơ hội được chạm tay vào tượng vàng Oscar. Giữa mùa Đông khắc nghiệt của The Revenant, trong nhân dạng của Hugh Glass, khoác lên mình tấm da gấu khổng lồ, quần áo râu tóc rũ rượi, Leo hầu như chỉ gầm gừ, rên rỉ hay la hét. Nếu anh có cất tiếng nói, thì phần nhiều trong số đó là ngôn ngữ của một bộ tộc Anh-điêng.

DiCaprio trong vai Hugh Glass. DiCaprio trong vai Hugh Glass.

Bị gấu tấn công và không thể đứng dậy, bị bỏ mặc giữa rừng, Glass lê lết trên đất ẩm, trần truồng giữa mưa tuyết, ăn tươi nuốt sống tất cả những gì tìm thấy trên đường trong cơn đờ đẫn bởi giá lạnh và đau đớn… Leo phá bỏ mọi hình mẫu quen thuộc của mình trên màn - diện mạo hoặc bóng bẩy hoặc phong trần nam tính, miệng không ngừng nói ra những câu từ đẹp đẽ, để trở thành một nhân vật hoàn toàn mới. Bẩn thỉu, nhem nhuốc và mọi rợ. Một người đàn ông bị phản bội, tự mình trèo ra khỏi huyệt mộ của chính mình, duy trì sự sống bằng khát khao báo thù, tìm cách sinh tồn giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Hình ảnh đó vừa là Hugh Glass trong cuộc trả thù đầy đau đớn, nhưng cũng là Leo vật vã trong mơ ước về ngày vinh quang.

Người ta chưa từng thấy Leo giận giữ đến thế, méo mó đến thế trên màn ảnh. Người ta chưa từng thấy Leo giận giữ đến thế, méo mó đến thế trên màn ảnh.

Leo tham gia The Revenant, với bản thân bộ phim, cũng giống như “Tái Ông mất ngựa”. Anh thổi hồn vào nhân vật, anh mang đến cho bộ phim sức sống, nhưng mặt khác, anh lấy mất của bộ phim phần nào sự chú ý mà nó xứng đáng nhận được. Khán giả đại chúng không phải những nhà phê bình điện ảnh hay hội đồng chấm giải. Một lượng nhất định trong số họ chỉ nhớ đến The Revenant như “một bộ phim có DiCaprio”, hay thậm chí “một nỗ lực nữa để DiCaprio chạm được tay vào Oscar”. Một chút thiên vị là tốt, nhưng quá nhiều sự thiên vị sẽ khiến những thứ quan trọng hơn không được nhắc đến.

Trong trường hợp này, đó có thể là chính bộ phim.

The Revenant thường xuyên có những cảnh quay 360o đầy ấn tượng. The Revenant thường xuyên có những cảnh quay 360o đầy ấn tượng.

Bối cảnh chính của phim diễn ra ở Bắc Mĩ vào những năm 1820. Hugh Glass - hoa tiêu dẫn đường cho một nhóm những người đi buôn lông thú bị tấn công bởi một con gấu trong rừng, bị thương nặng, và sau đó là bị bỏ mặc cho đến chết bởi người đồng sự của mình. Hawk, con lai của Hugh với một phụ nữ Anh-điêng, cũng bị giết. Kẻ gây ra những tội ác ấy là John Fitzgerald, một thành viên của đoàn.

Thật tình cờ làm sao khi trong một kì Oscar rùm beng về vấn đề phân biệt chủng tộc, chúng ta được chứng kiến, dù chỉ thoáng qua, hình bóng của vụ rùm beng ấy trong một bộ phim được đề cử. Fitzgerald coi việc trong quá khứ Glass đã bắn một sĩ quan chỉ huy, hay việc Hawk mang trong mình dòng máu Anh-điêng là một điều đáng hổ thẹn. Như thể bằng hành động ấy, Glass đã quay lưng lại với “loài người văn minh” và sống cùng “lũ mọi”. Tuy nhiên những công kích qua lại, sự kì thị trên bề mặt này chỉ nhằm giải toả sự bất mãn của Fitzgerald với Glass.

Tom Hardy đã có một vai phản diện để đời trong bộ phim này. Tom Hardy đã có một vai phản diện để đời trong bộ phim này.

Tom Hardy tham gia The Revenant và mang đến cho người xem một cảm giác vừa lạ vừa quen. Quen là bởi chất giọng mỉa mai cay độc của Tom trong phim này chính là âm điệu giọng nói của nhân vật Bane trong The Dark Knight Rises. Còn lạ là bởi nhân vật Fitzgerald này vừa kẻ cả, vừa độc ác và ti tiện hơn bất cứ nhân vật nào Tom từng thủ vai. Thiết nghĩ, nếu người ta đã bỏ ra nhiều công sức đến thế để ca ngợi Leo trong bộ phim này, thì sự “lột xác” của Tom Hardy cũng nên được nhắc đến.

Tạm gác lại câu chuyện Oscar, bỏ qua những diễn viên và vai diễn, The Revenant không đơn thuần chỉ là một câu chuyện về sự trả thù của một người đàn ông. Nó còn là huyền sử về sự ra đời của một đất nước. Cung tên và rìu chiến đấu lại súng hỏa mai, những chủ nhân đích thực của mảnh đất đánh trả những kẻ ngoại lai đầy lòng tham và thiếu thiện chí… Người tù trưởng với cô con gái mất tích đã có một phân đoạn tuyệt vời trên màn ảnh, khi ông nói một cách rành mạch, bằng tiếng Pháp, cho gã chủ buôn người Pháp, rằng những người như hắn ta đã đến đây và cướp mọi thứ từ tay ông, đồng bào của ông. Và giờ ông cần ngựa để đi tìm con gái.

Người tù trưởng sống trong tâm trạng giống như Glass, khắc khoải vì sự mất mát và đau thương. Người tù trưởng sống trong tâm trạng giống như Glass, khắc khoải vì sự mất mát và đau thương.

Người tù trưởng đi tìm con gái, còn Glass trả thù cho con trai mình - hai người đàn ông với giao điểm là sự mất mát, sự mất mát hối thúc họ lang thang kiếm tìm. Họ - ở hai phía của một bàn cờ, nhưng lại là hai “hoa tiêu” dẫn đường cho hai tuyến chuyện phim độc lập. Kết thúc bộ phim, hai con đường ấy đã giao nhau, hai người đàn ông chạm mặt - kẻ trên ngựa, kẻ vùi mình trong tuyết, nhưng ánh mắt họ chạm nhau lúc ấy giống như một lời chào. Lời chào gửi đến kẻ mang cùng một tâm trạng.

Không chỉ là những đoàn thám hiểm, những cuộc khai phá thuộc địa, những trận chiến với người Anh Điêng, The Revenant là câu chuyện về sự khởi sinh của một đất nước, bởi nó cho người xem thấy được chân dung những con người đã làm nên quốc gia ấy. Đó là những người Anh Điêng đang từ từ biến mất - hẳn vậy, là Glass, là Fitzgerald, là Đội trưởng Andrew Henry hay cậu thiếu niên Bridger. Chúng ta tạm chia họ làm hai phe, những kẻ thức thời, và những kẻ đã chết.

Will Pouter trong vai Bridger. Will Pouter trong vai Bridger.

Fitzgerald, tất nhiên, sẽ đại diện cho phe của những kẻ thức thời - luôn biết lợi nhuận nằm ở đâu, sẵn sàng đạp lên tính mạng của kẻ khác để tồn tại. Giống như một trò chơi tuyên truyền, khi hiểu rõ bản thân làm những điều sai trái, Fitzgerald bắt đầu tìm cách lấp liếm chúng bằng cách vin vào hiện thực khắc nghiệt, hay câu chuyện người cha trong quá khứ. Fitzgerald nói rất nhiều, thậm chí quá nhiều trong mối tương quan với các nhân vật khác. Những biện minh cho lòng tham và sự hèn nhát ấy đối lập với Glass - hầu như không nói mà chỉ thốt lên được những tiếng gầm gừ.

Phe của những kẻ đã chết, những kẻ giàu lí tưởng là Glass và Andrew Henry. Trong The Revenant, thức thời đã giết chết lí tưởng. Glass khiến ta đôi lúc sợ rằng anh đã mất đi bản năng làm người giữa những sinh tồn khắc nghiệt. Nhưng trong những khoảnh khắc ngắn ngủi, khi bóng ma của cái chết tạm lùi xa, bên ánh lửa, Glass dùng móng vuốt của con gấu khắc lên đá, lên vách hang dòng chữ “Fitzgerald đã giết con trai tôi”. Dòng chữ nghuệch ngoạc ấy vừa là nỗi đau không cất nên lời, vừa là ngọn lửa tinh thần giữ Glass tránh xa bóng đêm của bản năng loài vật. Nhưng điều chứng minh Glass vẫn thực sự là một “con người” chính là khoảnh khắc anh minh oan cho Bridger. Giữa mịt mùng những đói khổ, giận giữ và đau đớn, Glass vẫn không quên chút lòng tốt ít ỏi mà cậu bé dành cho mình. Đó quả là một điều kì diệu.

The Revenant là bộ phim về sự ra đời của một đất nước. The Revenant là bộ phim về sự ra đời của một đất nước.

Trong suốt chiều dài bộ phim, từ khoảnh khắc bắt đầu cho tới phút giây kết thúc, tín ngưỡng bản địa luôn tồn tại, như dòng sông băng vẫn chảy xiết giữa mưa tuyết giá lạnh, như tiếng nhạc nền ám màu sử thi cất lên đôi chỗ. Tín ngưỡng ấy ăn sâu vào Glass, trở thành kí ức của anh, trở thành cách hành xử của anh, lối suy nghĩ của anh. Và việc để Glass - một kẻ ngoại bang tiếp nhận thứ tín ngưỡng địa phương ấy giống như một thông điệp về sức mạnh. Những đội thám hiểm bất kính kia nghĩ rằng họ đã khuất phục được một vùng đất bằng vũ khí, bằng tiền bạc, bằng cách bẻ gãy tinh thần của những cư dân sống trên mảnh đất ấy, nhưng họ đã nhầm. Ngay khi họ đặt chân lên mảnh đất ấy, tín ngưỡng của vùng đất, linh hồn của vùng đất ấy đã thấm vào họ, xâm chiếm họ theo cách thiêng liêng nhất. Như trong phạm vi câu chuyện của Glass - đó là một gia đình.

The Revenant không chỉ là một câu chuyện về sự trả thù, về con người đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, nó còn là truyền thuyết về một vùng đất diệu kì.